9 nhóm thuốc kháng sinh thông dụng

9 nhóm thuốc kháng sinh thông dụng

Trước khi thuốc kháng sinh ra đời mọi bệnh do vi khuẩn đều có thể giết chết con người một cách dễ dàng. Người ta thường dùng các loại thảo mộc dựa trên kinh nghiệm đúc kết từ nhiều đời để lại để trị bệnh các loại thảo mộc này đôi khi có tác dụng không mong muốn để lại các trường hợp tử vong đáng tiếc. Sau năm 1978 thuốc kháng sinh ra đời giải quyết được nhiều căn bệnh chưa từng có thuốc đặc trị trước đó. Tuy nhiên việc lạm dụng và sử dụng thuốc kháng sinh hiện nay đang được xem là con dao hai lưỡi gây hại cho con người.

Trên thế giới mỗi năm cho ra hàng trăm loại kháng sinh mới nhưng tất cả đều quy lại 9 nhóm sau:

  • Nhóm Beta-lactam
  • Nhóm Macrolid
  • Nhóm Aminoglycosid
  • Nhóm phenicol
  • Nhóm Peptid
  • Nhóm Quinolon
  • Nhóm Lincosamid
  • Nhóm Tetracylin
  • Nhóm Cephalosporine

Nhiều bạn đặt câu hỏi là tại sao lại chia ra làm các loại này lý do đơn giản là mỗi loại hoạt động theo một cách khác nhau, dùng cho các trường hợp riêng biệt và có các tác dụng phụ khác cần chú ý. Bây giờ chúng ta sẽ cùng phân tích điểm yếu điểm mạnh của từng nhóm.

1. Nhóm kháng sinh Beta-lacma

Đây là nhóm kháng sinh rộng nhất với các dòng kháng sinh chữa các cấu trúc hóa học dòng beta-lactam. Các vòng này sẽ liên kết với các vòng cấu trúc khác như nhóm cephalosporin, nhóm penicilin, nhóm beta-lacma khác để tạo thành các loại kháng sinh khác trong nhóm này.

Nhóm này có tác dụng chính là điều trị các bệnh ngoài da do nhiễm khuẩn, bệnh dạ dày, cảm cúm…

Tác dụng phụ: có nhiều sản phẩm nên tác dụng phụ cũng đa dạng tỷ lệ cao gặp là dị ứng ngoài da như mề đay, mẩn đỏ, ngứa. Trong các loại di ứng sốc phản vệ ADR là nguy hiểm nhất có thể dẫn đến tử vong.

Hiếm gặp hơn là tai biến thần kinh với biểu hiện khó ngủ, bồn chồn, rối loạn tâm thần, co giật trường hợp này chỉ gặp khi sử dụng thuốc quá liều hoặc những người suy gan thận không đào thải được gây ứ trệ thuốc quá liều.

Các sản phẩm tiêu biểu trong nhóm này:

  • Benzylpenicillin: PNC G
  • Phenoxypencillin: PNC V
  • Pennicillin kháng pnenicillinase: oxacillin, methicillin, nafcillin
  • Aminopenicillin: ampicillin, amoxicillin
  • Carboxypenicillin: carbennicillin, ticarcillin
  • Ureidopenicillin: azlocillin, piperacillin, mezocillin, tazobactam
  • Carbapenem: meropenem, imipenem, doripennem

2. Nhóm Macrolid

Là nhóm kháng sinh có chứa vòng Macrocylic lacton lớn găn snhieuef gốc deoxy như cladinose và desosamine. Nhóm macrolides được sử dụng làm thuốc kháng sinh và một biến thể kháng được sử dụng như dược phẩm hoặc thuốc trị nấm.

Nhóm Macrolides thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn gram dương và một số trường hợp nhiễm khuẩn đường hô hấp do virus khác. Không giống như penicilin, maccrolides được chứng minh có hiệu quả chống lại các vi khuẩn Legionella, mycoplasma, mycobacteria và chlamydia.

Tác dụng phụ:  Thường gặp là buồn nôn, ỉa chảy, đau bụng do không dung nạp thuốc. Hiếm gặp hơn khi bị chuyển hóa mạnh gây suy gan, thận thậm chí loạn nhịp tim do sử dụng quá liều hoặc cơ thể không đào thải được. Đây là nhóm có khả năng kháng thuốc thấp nhất nên được sử dụng sau khi các loại kháng sinh khác đã mất tác dụng.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Erythromycin
  • Sparamycin
  • Rixithromycin
  • Clarithromycin
  • Azithromycin

3. Nhóm aminoglycoside

Là nhóm kháng sinh có tác dụng mạnh hơn trên gram âm hiếu khí, diệt khuẩn phổ rộng nhóm aminoglycoside hầu hết được thải trừ qua thận. Độc tính của nhóm này có thể gây hoại tử ống thận và thính giác gây ù tai, điếc nếu dùng kéo dài các thuốc của nhóm như: gentamycin, gentamycine,… các thuốc này không hấp thụ qua đường tiêu hóa, nếu dùng điều trị nhiễm khuẩn toàn thân thì phải sử dụng dạng tiêm.

Aminoglycoside không hiệu quả với vi khuẩn kỵ khí, nấm và vi rút. Nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn gram dương có thể cũng được điều trị bằng aminoglycoside, nhưng có nhiều loại thuốc kháng sinh mạnh hơn và ít gây tổn hại cho người bệnh.

Tác dụng phụ: thường biểu hiện là tình trạng thiểu niệu hoặc vô niệu do hoại tử ống thận cấp tính, aminoglycoside gây độc với thận nếu dùng thuốc kéo dài, người suy thận thường sẽ hồi phục sau khi ngưng dùng kháng sinh aminoglycoside. Các kháng sinh aminoglycoside chỉ nên được sử dụng trong những trường hợp nhiễm trùng nặng nhưng không có sự lựa chọn thay thế thích hợp.

Sản phẩm tiêu biểu

  • Streptomycine
  • Gentamycine
  • novomycin
  • Tobramycine
  • Amikacine
  • Neomycine
  • Kanamycine
  • Netilmycine

4. Nhóm Phenicol

Đây là nhóm kháng sinh kìm khuẩn hoạt động phổ rộng, khả năng phân bổ tốt vào các mô trong cơ thể nên rất được ưa chuộng trong trị liệu. Thuốc hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và ngoại đường tiêu hóa, phenicol chuyển hóa tốt ở gan và được bài thải chủ yếu qua thận.

Tuy nhiên từ khi phát hiện những độc tính gây rối loạn tủy xương, rối loạn tiêu hóa, suy giảm tim mạch nếu dùng liều cao,… Việc sử dụng chất này đã được giới hạn ở nhiều quốc gia trong những quy định quốc tế.

Tác dụng phụ: Phenicol gây bất sản tủy dẫn đến thiếu máu trầm trọng khi gặp với cloramphenicol. Hơn nữa thuốc còn gây tím tái, trụy mạch, suy gan, suy thận có thể dẫn đến tử vong thường gặp ở trẻ sơ sinh. Hiện kháng sinh này ít được sử dụng do nguy cơ gây rối loạn tủy xương cao. Tuy hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm và dễ gây tử vong.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Chloramphenicol
  • Thiamphenicol

5. Nhóm Peptid

Kháng sinh có cấu trúc peptid gồm nhiều nhóm hợp chất có tác dụng kháng khuẩn theo nhiều cơ chế khác nhau. Phân tử của chúng được thành lập nhờ sự liên kết của nhiều acid amin qua cầu nối peptid. Hầu hết các peptid có phần phụ là acid béo, với cấu tạo bất thường này làm cho các peptid khó bị chuyển hoá.

Các nhóm peptid có cơ chế  tác dụng làm ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, vì vậy các peptid qua đường uống được dùng điều trị nhiễm khuẩn tiêu hóa, viêm đại tràng,… peptid qua đường tiêm dùng điều trị nhiễm khuẩn nặng do tụ cầu, nhiễm khuẩn huyết, xương,  kể cả loại kháng penicilin.

Các peptid có độc tính rất cao trên người do vậy chỉ dùng khi thật sự cần thiết. Khi pha thành dung dịch, khi chịu tác động của nhiệt, ánh sáng và nhất là pH không thích hợp các peptid thường không bền.

Tác dụng phụ: kháng sinh nhóm peptid gây độc với thận, hay gặp là viêm tĩnh mạch, gây dị ứng, giảm thính giác và có thể gây điếc. không sử dụng kháng sinh này đối với người bị suy gan, suy thận hoặc người có bệnh lý về thính giác.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Amphomycin
  • Polymyxin
  • Daptomycin
  • Bacitracin
  • Tyrocidin
  • Vancomycin
  • Teicoplanin

6. Nhóm Quinolon

Nhóm này không có nguồn gốc tự nhiên mà được tổng hợp từ các loại kháng sinh khác hoặc chất hóa học. Nhóm này hoạt động theo nguyên tắc ức chế tác dụng của enzyme heelicaza AND để làm cho các mạch đơn của vi khuẩn không thể dãn xoắn và tách mạch hạn chế quá trình sinh sôi của vi khuẩn.

Hiện nay các loại vi khuẩn ngày càng nguy hiểm và có những diễn biến phát triển phức tạp nên nhu cầu cho ra các loại kháng sinh mới ngày càng cao. Vì thế các loại kháng sinh tổng hợp không chính thống như Quinolone cũng ngày một xuất hiện nhiều hơn.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Ciprofloxacine
  • Ofloxacine
  • Norfloxacine
  • Levofloxacine
  • Gatifloxacine
  • Moxifloxacine
  • Acide nalidixic

7. Nhóm Lincosamid

Nhóm này tương đối nhỏ hoạt động bằng cách can thiệp vào quá trình tổng hợp protein của vi khuấn mà không tác động vào quá trình tổng hợp protein trong tế bào người bởi cấu trúc ribosome của hai loại này khác nhau từ đó tiêu diệt vi khuẩn.

Nhóm Lincosamide chỉ có hai sản phẩm trong đó lincomycin là kháng sinh tự nhiên, clindamycin là loại kháng sinh bán tổng hợp.

Tác dụng phụ: có ghi nhận một vài tác dụng phụ không mong muốn thường gặp là ỉa chảy, viêm đại tràng hiếm gặp hơn là giảm bạch cầu đa nhân trung tính có thể gây tử vong. Sử dụng Lincosamide thường xuyên không theo chỉ dẫn của bác sĩ có thể khiến vi khuẩn kháng cả hai loại kháng sinh trong nhóm này.

  • Sản phẩm tiêu biểu: lincomycine, clindamycine

8. Nhóm Tetracyclin

Tetracyclin là một loại kháng sinh được phát hiện ra từ năm 1948, có tác dụng kìm hãm sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn bởi sự ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn, làm cho vi khuẩn không thể sinh sôi và phát triển được.

Tetracyclin là kháng sinh có phổ hoạt động rộng, là thuốc ưu tiên dùng điều trị các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh mắt hột, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, tiết niệu, viêm phổi,… Đặc biệt là điều trị bệnh tiêu chảy cấp tính do phẩy khuẩn tả gây ra.

Tetracyclin được hấp thu qua đường tiêu hóa, nên uống xa bữa ăn. Thuốc được thải trừ qua gan và thận, bài tiết qua mật vào ruột, một phần được tái hấp thu trở lại qua vòng tuần hoàn gan, ruột. Tuy nhiên, tetracyclin không có tác dụng với nấm, sán lá gan, sán lá phổi, giun, sán…ký sinh trùng khác và các loại bệnh do virut gây ra.

Tác dụng phụ và kháng thuốc: tetracyclin còn gây ra một sốt tác dụng không mong muốn như rối loạn tiêu hóa, hoại tử vùng bị tiêm, ảnh hướng xấu đến xương, độc với gan, thận,… các rối loạn khác ít gặp hơn như dị ứng, thiếu máu, xuất huyết,… tetracyclin là kháng sinh phổ rộng, do dùng lạm dụng hiện nay đã gây tình trạng kháng thuốc nhiều ở một số bệnh nhân.

Sản phẩm tiêu biểu

  • Tetracycline
  • Doxycucline
  • Minocycline

9. Nhóm Cephalosporin

Là nhóm lớn thuộc dòng kháng sinh Beta-lacma với rất nhiều sản phẩm sử dụng chủ yếu điều trị các loại cảm cúm, nhiễm khuẩn do virus hoạt động khá hiệu quả và được sử dụng rộng rãi ngày nay.

Cephalosporin gồm có 4 thế hệ:

  • Thế hệ đầu tiên có khả năng diệt khuẩn cho các nhiễm khuẩn da và mô mềm do S.aureus và S.Pyogenes gây ra.
  • Thế hệ thứ hai có thể được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, và viêm tai giữa.
  • Thế hệ thứ ba là liệu pháp lựa chọn để điều trị bệnh lậu và các dạng nghiêm trọng của bệnh nhiễm khuẩn do ve gây ra.
  • Thế hệ thứ tư được dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kháng thuốc.

Tác dụng phụ của thuốc: ghi nhận một vài trường hợp sử dụng kháng sinh nhóm cephalosporin khiến rối loạn hệ tiêu hóa nhẹ hoặc chảy máy do tác động chống tập kết tiểu cầu của cephalosporin. Cephalosporin được coi là có tiềm năng độc tố đối với thận. Nếu dùng liều cao có thể gây hoại tử ống thận trong một số trường hợp.

Các sản phẩm tiêu biểu:

  • Thế hệ 1: Cephalexin, cepharoxil, cephalogin, caphazolin
  • Thế hệ 2: cefaclor, cefuroxin, cafetetan, cephamandole
  • Thế hệ 3: cefotaxim, cefixim ceftriaxone, cefoperazone, ceftazidime
  • Thế hệ 4: cefepime, cefpirom

Các loại kháng sinh thông dụng hiện nay

Trên thị trường ngày nay có rất nhiều loại kháng sinh, mỗi loại kháng sinh lại có một công dụng ưu điểm  riêng tùy vào mục đích sử dụng, sau đây là một số loại nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến hiện nay:

Nhóm penicillin: là một trong một nhóm kháng sinh điều chế được từ nấm Penicillium. Penicillins tiêu diệt vi khuẩn và ức chế sự sinh trưởng của chúng, nó thường không tiêu diệt các vi khuẩn ở trạng thái nghỉ mà chỉ tiêu diệt vi khuẩn đang trong lúc sinh sản và sinh trưởng. Các penicillin thường được dùng để điều trị nhiễm trùng da, nhiễm trùng răng, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiết niệu, lậu mủ.

Nhóm cephalosporin: thuộc nhóm kháng sinh β-lactam có nguồn gốc từ nấm Acremonium, là kháng sinh diệt khuẩn và có cùng cơ chế hoạt động như các thuốc beta-lactam khác (như penicillin). Cephalosporin được dùng điều trị bệnh nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn nhạy cảm với các kháng sinh này như viêm phổi, viêm phế quản, viêm tai giữa, nhiễm trùng xương… cũng được dùng trong điều trị dự phòng ngoại khoa. Thế hệ đầu tiên của Cephalosporin chủ yếu có tác dụng trên vi khuẩn Gram dương và các thế hệ kế tiếp đã tăng khả năng chống lại vi khuẩn Gram-âm (mặc dù thường giảm tác dụng chống lại Gram dương).

Nhóm fluoroquinolon:  là thế hệ sau của quinolon, hiện nay là nhóm thuốc kháng sinh quan trọng, đang được sử dụng rộng rãi trong y học để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nặng và nguy hiểm. Các thuốc này có dược lực học tiến bộ hơn thuốc thế hệ đầu và có tác dụng chống nhiều loại vi sinh vật gây nhiễm trùng. Các quinolon được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, bài thải chủ yếu qua đường tiết niệu ở dạng còn hoạt tính tạo độ an toàn cao với hệ tiết niệu. Có thể sử dụng đường tiêm và đường uống tùy theo loại bệnh.

Nhóm tetracyclin: Chiết xuất từ nấm Streptomyces Aureofaciens, là kháng sinh phổ rộng, kìm khuẩn,  rất phổ biến trong điều trị, ức chế vi khuẩn tổng hợp protein. Được chỉ định trị liệu nhiễm trùng hô hấp do vi khuẩn nội bào, nhiễm trùng do vết cắn súc vật, bệnh Lyme, Rickettsiose, mụn nhọt, mắt hột, loét dạ dày,…

Nhóm macrolid: Các macrolid tự nhiên được điều chế chủ yếu từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn streptomyces, ức chế vi khuẩn tổng hợp protein, là kháng sinh kìm khuẩn mạnh, diệt khuẩn yếu nhưng lại có một vài tác dụng không mong muốn như là rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm gan, loạn nhịp tim. Nó được chỉ định điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, răng miệng, phổi, tai mũi họng,  viêm đường sinh dục, nhiễm trùng dạ dày ruột và nhiễm trùng da.

Một số nhóm kháng sinh khác:

Nhóm Sulfamid

Là nhóm có các cấu trúc gần giống với p aminobenzonic acid (PABA) có tác dụng cạnh tránh với PABA thức ăn của vi khuẩn khiến quá trình tổng hợp acid nucleotid bị gián đoạn khiến nó không thể sinh sôi được. Sulfamid đều là các chất tổng hợp, dạng bột tinh thể, rất ít tan trong nước, dễ tan trong huyết thanh và mật.

Sulfamid đa số  được hấp thu qua đường tiêu hóa, được chuyển hóa ở gan và được bài thải qua thận. Sulfamid phân bố ở dịch ngoại bào, phân tán đến khắp cơ thể bao gồm các mô mềm, cả hệ thần kinh trung ương và cả khớp xương.

Hoạt tính của sulfamid chỉ có tác động tĩnh khuẩn lên hệ miễn dịch giữ vai trò quan trọng trong việc loại trừ tận gốc sự nhiễm trùng. Sulfamid có hiệu quả cao trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng, thêm vào đó khả năng thực bào còn mạnh mẽ và sự khuyếch tán của thuốc chưa bị cản trở bởi quá trình xơ hóa trong quá trình viêm.

Tác dụng phụ: một số trường hợp kháng sinh nhóm sulfamid khiến rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, có các biểu hiện dị ứng với thuốc. ngoài ra Các trường hợp ít gặp như thiếu máu, giảm bạch cầu, viêm ống thận, vô niệu,… Không dùng cho người suy gan, suy thận, địa tạng dị ứng.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Sulfamethoxazole
  • Sulfamid
  • Sulfaguanidin
  • Sulphadiazine
  • Sulphadoxine

Nhóm Nitroimidazole

Đây là nhóm dẫn xuất tổng hợp, ít tan trong nước, khuếch tan nhanh qua màng sinh học. các thuốc kháng sinh nitroimidazole được dùng để chống lại sự nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, vi khuẩn kỵ khí và các ký sinh trùng gây bệnh ở tiêu hóa, tiết liệu, màng não. Ngoài ra thuốc còn diệt được amip, trichomonas và giardia.

Tác dụng không mong muốn: gây buồn nôn, viêm lưỡi, viêm miệng, có vị lim loại ở miệng, hơn nữa kháng sinh nhóm Nitroimidazole còn gây ảnh hưởng lớn đến các dây thần kinh như: viêm dây thần kinh cảm giác, viêm dây thần kinh vận động tứ chi, co giật dẫn tới viêm não.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Metronidazole
  • Tinidazole
  • Ornidazole
  • Secnidazole

Nhóm Glycopeptide

Đây là nhóm gây ức chế tổng hợp vách tế bào, có phổ kháng khuẩn hẹp, là thuốc có nguồn gốc từ vi khuẩn có cấu tạo từ vòng glycosylated hoặc các polycyclic nonribosomal peptides và chỉ có khả năng diệt khuẩn với enterococci.

Do độc tính nên glycopeptide được sử dụng cho những bệnh nhân đang bị bệnh nặng, những người mẫn cảm với beta-lactam hay người bị nhiễm vi khuẩn kháng beta-lactam. Glycopeptide không xâm nhập vào một số mô và dịch não tủy.

Tác dụng phụ: nhóm glycopeptide trong đó đáng chú ý là vancomycin đưuọc tiêm tĩnh mạch có thể gây hoại tử mô và viêm tĩnh mạch tại vùng tiêm. Có thể gây suy thận do nguy cơ tích tụ thuốc , rối loạn máu, hạ bạch cầu, giảm thính giác, các rối loạn này trên bệnh nhân có thể hồi phục sau khi ngưng thuốc.

Sản phẩm tiêu biểu:

  • Vancomycin
  • Teicoplanin
  • ramoplanin
  • decaplanin

Cơ chế tác động của kháng sinh

Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học tổng hợp, bán tổng hợp với nồng độ rất thấp có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt vi khuẩn. Kháng sinh có tác động lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn.

kháng sinh có tác dụng lên vi khuẩn chủ yếu là những tác động sau:

  • Gây ức chế sự thành lập của vách tế bào:
    • Kháng sinh thuộc nhóm này : Vancomycin, bacitracin, cephalosporin, cycloserine, penicillin,…

Khi sự tổng hợp vách tế bào bị ức chế, vi khuẩn gram(+) biến thành dạng hình cầu không có vách. Vi khuẩn gram(-) có vách không hoàn chỉnh dẫn đến tế bào dễ vỡ ở môi trường có trương lực bình thường.

Giai đoạn 1: Thuốc gắn vào thụ thể penicilin-binding protein (PBP) của tế bào ngăn tổng hợp peptidoglycan. Có 3 – 6 thụ thể PBP, những thụ thể khác nhau có ái lực khác nhau đối với một loại thuốc và tác dụng của thuốc là khác nhau.

Giai đoạn 2:  Ngăn chặn việc tổng hợp peptidoglycan, một thành phần quan trọng của các tế bào.

Giai đoạn 3: Hoạt hóa các men tự tiêu dẫn đến ly giải tế bào ở môi trường đẳng trương.

  • Gây ức chế nhiệm vụ của màng tế bào:
    • Kháng sinh thuộc nhóm này :Amphotericin b, colistin, imidazole,…

Chức năng của màng tế bào là thẩm thấu, vận chuyển chủ động, kiểm soát các thành phần bên trong màng tế bào. Nếu sự toàn vẹn chức năng của màng tế bào bị phá vỡ thì đại phân tử và ion thoát ra khỏi tế bào và làm tế bào chết. Màng tế bào vi khuẩn và vi nấm có cấu trúc khác với tế bào của động vật sẽ dễ bị phá hủy bởi một số tác nhân.

  • Gây ức chế sự tổng hợp protein:
    • Kháng sinh thuộc nhóm này: Chloramphenicol, tetracyclines, macrolides, erythromycins, lincomycins, aminoglycosides,…

Chloramphenicol: Thuốc gắn vào tiểu đơn vị 50S/ribô thể làm ức chế peptidyltransferase, ngăn các amino acid mới gắn vào chuỗi peptid mới thành lập.

Tetracyclines: Thuốc gắn vào tiểu đơn vị 30S/ribô thể làm ngăn chặn các amino acid mới gắn vào chuỗi peptid mới được thành lập.

Macrolides: Thuốc gắn vào tiểu đơn vị 50S/ribô thể làm ngăn cản sự thành lập phức hợp đầu tiên để tổng hợp chuỗi peptid.

Erythromycins: giúp ngăn cản chuyển động chuyển đoạn của ribosome theo mRNA.

  • Gây ức chế tổng hợp acid nucleic:
    • Phần lớn những thuốc này ức chế hiệu quả sự tổng hợp DNA của vi khuẩn, một số còn ngăn chặn việc tổng hợp RNA của vi khuẩn.
    • Kháng sinh thuộc nhóm này là: Actinomycin, mitomycin, nalidixic acid, novobiocin, pyrimethamin, rifampin, sulfonamides, trimethoprim,…

Nalidixic acid: Phong bế DNA gyrase gây ức chế tổng hợp DNA.

Rifampin: Thuốc gắn vào polymerase làm ức chế tổng hợp RNA.

Sulfonamides và trimethoprim: đối với nhiều vi sinh vật, acid para-aminobenzoic( PABA) là một tiền chất để tổng hợp acid folic, tổng hợp acid nucleic. Sulfonamides có cấu trúc tương tự PABA, dẫn tới cạnh tranh tạo những chất tương tự acid folic nhưng không có chức năng dẫn đến cản trở sự phát triển của vi khuẩn.

Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO, mỗi năm có hàng triệu người chết do kháng thuốc. Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao trên thế giới. Lượng thuốc kháng sinh bán ra từ năm 2009 đến nay đã tăng gấp 2 lần, khiến các loại thuốc điều trị trở nên khan hiếm hơn.

Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn không bị tiêu diệt, không bị kìm hãm dưới sự tác dụng của kháng sinh. Không hề có một dấu hiệu đặc biệt nào cho biết vi khuẩn kháng thuốc hay bệnh này do vi khuẩn kháng thuốc gây ra, chỉ khi chúng ta điều trị cho bệnh nhân mà cụ thể bằng một loại kháng sinh nhất định nhưng mãi không khỏi thì mới phát hiện ra là vi khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh.

Kháng sinh được tạo ra để kháng các loại vi khuẩn, bảo vệ sức khỏe và tăng cường hệ miễn dịch cho con người. Nhưng điều này đã vô tình làm cho người dùng lạm dụng các loại thuốc kháng sinh. Khi chúng ta quá phụ thuộc vào kháng sinh sẽ dẫn đến vi khuẩn một ngày tiến hóa, không bị tiêu diệt và kìm hãm dưới sự tác dụng của kháng sinh, lúc đó kháng sinh sẽ bị vô hiệu hóa và bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Ngoài ra còn rất nhiều kháng sinh khác mà không được đề cập trong bài này bạn hãy tham khảo bác sĩ hoặc dược sĩ để biết thêm chi tết.

keywork: 9 nhóm thuốc kháng sinh quan trọng và các loại kháng sinh thông dụng hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *